Xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết dạ dày thường xảy ra do các nguyên nhân nào ?

Xuất huyết tiêu hoá là tình trạng máu thoát ra khỏi lòng mạch của ống tiêu hoá vào trong lòng ống tiêu hoá biểu hiện dưới dạng nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu. Xuất huyết tiêu hoá cao là xuất huyết ở phần trên ống tiêu hoá, thường gây ra nôn máu hoặc ỉa máu. Những ai có thể mắc bệnh xuất huyết dạ dày? Bệnh hay gặp ở mọi lứa tuổi song hay gặp 20 – 50, nam gặp nhiều hơn nữ.

C

Chuyển giao thời tiết từ mùa xuân sang hè, mùa thu sang mùa đông. Lạm dụng dùng một số thuốc giảm đau chống viêm: aspirin, corticoid. Chấn thương tinh thần: quá bực tức, stress…. Cách thông thường nhất và hữu ích trên phương diện lâm sàn và phân chia xuất huyết đường dạ dày ruột (gastrointestinal tract bleeding) thành xuất huyết ở phần trên và phần dưới. Sự xác định này cho ta một ý nghĩ về căn nguyên, tiên lượng và cách điều trị.

Xuất huyết dạ dày – ruột trên (upper gastrointestinal tract bleeding ) : bao gồm triệu chứng xuất huyết dạ dày ở phần gần so với tá tràng (duodenum). Xuất huyết dạ dày ruột dưới (lower gastrointestinal tract bleeding) : xảy ra ở phần xa so với tá tràng. Xuất huyết không rõ nguồn (Obscure bleeding) : để chỉ xuất huyết hiển lộ của đường dạ dày ruột trong đó sự đánh giá ban đầu (bao gồm nội soi chẩn đoán) không thể xác định được nguồn xuất huyết. Xuất huyết ẩn (occult bleeding) : Loại xuất huyết này không hiển lộ nhưng chỉ được phát hiện lúc thăm dò tìm nguyên nhân thiếu máu do thiếu sắt iron-deficiency anemia hoặc lúc thăm khám kiểm tra.

Do dùng thuốc giảm đau, chống viêm : Trong số này hay gặp nhất là aspirin và các thuốc chống viêm không steroid. Khi dùng aspirin với liều 1g/24 giờ, có tới 50% bệnh nhân bị tổn thương dạ dày. Do rượu : Có 20% người nghiện rượu xuất huyết tiêu hoá là do viêm dạ dày xuất huyết. Mức độ tổn thương dạ dày có thể phụ thuộc vào nồng độ và số lượng rượu, và nguyên nhân chảy máu có thể là do tăng thẩm thấu ở niêm mạc dạ dày.

Do tăng áp lực tĩnh mạch cửa : Bệnh xơ gan và một số bệnh lý khác có thể gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa, dẫn đến xuất huyết niêm mạc và dưới niêm mạc dạ dày. Do axit hoặc kiềm: Do bệnh nhân vô tình hoặc chủ ý uống phải dung dịch axit (như axit HCL, H2SO4), hoặc dung dịch kiềm đặc (xà phòng giặt). Ngoài gây tổn thương dạ dày, axit hoặc kiềm đặc có thể gây tổn thương thực quản như loét, chít hẹp, thậm chí gây thủng thực quản.

Loading Facebook Comments ...