Tiêu chảy cấp có thể do di chứng nhiễm khuẩn đường ruột cấp

Viêm đại tràng mạn là tình trạng tổn thương mạn tính của niêm mạc đại tràng, tổn thương có thể khu trú một vùng hoặc lan toả khắp đại tràng. Viêm đại tràng mạn là bệnh hay gặp và khá phổ biến. Nguyên nhân của Tiêu chảy cấp là gì và cách chữa tốt nhất tại nhà. Di chứng của bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lị trực khuẩn, lị amip và các nhiễm trùng khác. Nguyên nhân dị ứng. Nguyên nhân bệnh tự miễn (viêm đại tràng, loét không đặc hiệu). Thuyết miễn dịch: vì một lý do nào đó chưa rõ viêm niêm mạc đại tràng trở thành kháng nguyên nên cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chính niêm mạc đại tràng của bản thân.

Phản ứng kháng thể kháng nguyên xảy ra ở một vùng hoặc toàn bộ niêm mạc đại tràng gây tổn thương, đó là hiện tượng “miễn dịch tự miễn”. Thuyết thần kinh: sau tổn thương thần kinh trung ương và nhất là hệ thần kinh thực vật gây rối loạn vận động, bài tiết lâu ngày, gây tổn thương niêm mạc đại tràng. Giảm sức đề kháng của niêm mạc đại tràng. Vì lý do toàn thân hoặc tại chỗ dẫn tới triệu chứng đại tràng co thắt, đi đôi với rối loạn vận động, tiết dịch, sức “chống đỡ bệnh” của niêm mạc giảm, nên viêm loét xảy ra.

Trên đại thể người ta thường thấy có các hình ảnh: niêm mạc xung huyết, các mạch máu cương tụ thành từng đám, hoặc niêm mạc đại tràng bạc màu, mất độ láng bóng. Tăng tiết nhầy ở vùng niêm mạc bị tổn thương viêm. Có hình ảnh viêm mạn tính: lympho bào, tổ chức bào, tương bào tập trung hoặc rải rác ở lớp đệm của niêm mạc. Các tuyến tăng sinh hoặc thưa thớt. Tùy theo hình thái bệnh lý có thể thấy. Tế bào tăng tiết nhầy hoặc teo đét. Liên bào phủ: tăng sinh hoặc tái tạo không hoàn toàn. Có thể thấy tăng tế bào ở lớp đệm. Viêm đại tràng mạn sau lỵ trực khuẩn. thuốc trị bệnh viêm đại tràng không đặc hiệu. Người bệnh mệt mỏi, ăn ngủ kém, chán ăn, đầy bụng, giảm trí nhớ, hay cáu gắt, có thể có sốt.

Nếu bị bệnh nặng thì cơ thể gầy sút hốc hác. Vị trí: xuất phát đau thường là ở vùng hố chậu hai bên hoặc vùng hạ sườn phải và trái (vùng đại tràng gan góc, góc lách). Đau lan dọc theo khung đại tràng. Tính chất, cường độ đau: thường đau quặn từng cơn, có khi đau âm ỉ. Khi đau thường mót “đi ngoài”, “đi ngoài” được thì giảm đau. Chủ yếu là ỉa lỏng nhiều lần một ngày, phân có nhầy, máu. Táo bón, sau bãi phân có nhầy, máu. Táo lỏng xen kẽ nhau (viêm đại tràng khu vực). Mót rặn, ỉa già, sau “đi ngoài” đau trong hậu môn. Ấn hố chậu có thể có tiếng óc ách, chướng hơi, ấn dọc khung đại tràng đau. Có thể sờ thấy “thừng xích ma” như một ống chắc, ít di động. Có thể thấy hồng cầu, tế bào mủ. Trứng ký sinh trùng, amip, lamblia. Soi đại trực tràng: thấy tổn thương trợt loét nông lan tỏa toàn bộ đại tràng hoặc khu trú tại từng đoạn của đại, trực tràng.

Các giả polyp có kích thước từ vài mm đến vài cm. Chúng có xu hướng dài hơn chiều rộng, có thể giống hệt như khối u, nhưng sinh thiết làm MBH chỉ là tổn thương viêm mạn tính. Giai đoạn bệnh ổn định: bề mặt niêm mạc thường lần sần, các mạch máu dưới niêm mạc giảm đi. Hình ảnh giả polyp và mất các rãnh ngang đại tràng là những dấu hiệu chứng tỏ bệnh đã trải qua một quá trình lâu dài. Giai đoạn bệnh cấp: đặc trưng bởi niêm mạc phù nề, xung huyết, niêm mạc chảy máu tự phát, có các ổ loét nông liên tục, không có niêm mạc lành xen kẽ.

Loading Facebook Comments ...